Showing posts with label debian. Show all posts
Showing posts with label debian. Show all posts

Friday, June 13, 2014

Linux Security Hardening - Phần 3



11.      Cấu hình và sử dụng Iptables và TCPWrapper

Iptables nên được cấu hình để chỉ cho phép các dữ liệu cần thiết trên mạng. Đối với Workstations, có thể thiết lập bocking tất cả các dữ liệu đến, ngoại trừ trong trường hợp liên quan đến bắt đầu hệ thống. Nếu Iptables đang chạy, xem policy hiện tại với câu lệnh sau:

/sbin/iptables –L

Mặc định, các luật cho output được lưu ở file /etc/sysconfig/iptables. Cần hiểu và điều chỉnh các luật này hợp lý hơn, xóa bỏ những dòng cho phép dữ liệu qua không cần thiết. Để cập nhật các luật, tiến hành restart service.

Tương tự vậy cấu hình TCP Wrapper để bạo vệ dịch vụ mạng bằng cách thêm vào các luật vào:

/etc/hosts.allow/etc/hosts.deny

12.      Delete X Windows

X Windows là tính năng không cần thiết với Server. Sẽ không có lý do gì cần phải chạy X Windows nếu server chỉ để chạy Web server và Mail. Do vậy, bạn nên disable hoặc xóa X Windows để gia tăng tính an toàn và hiệu năng. Chỉnh sửa /etc/inittab để run với level 3. Cuối cùng là xóa X Windows khỏi hệ thống

# yum groupremove "X Window System"

13.      Linux Kernel /etc/sysctl.conf hardening

/etc/sysctl.còn là file được sử dụng để cấu hình các tham số trong quá trình kernel được thực thi (runtime). Linux đọc và áp dụng các thiêt lập khi boot. Với sysctl bạn có thể cấu hình cho network và system có thể ngăn chặn một số hình thức tấn công như: IP spoofing, SYN Flood ... 

Cụ thể như sau:

 # Turn on execshield
kernel.exec-shield=1
kernel.randomize_va_space=1 

# Enable IP spoofing protection
net.ipv4.conf.all.rp_filter=1
net.ipv4.conf.default.rp_filter = 1

# Disable IP source routing
net.ipv4.conf.all.accept_source_route=0

# Ignoring broadcasts request
net.ipv4.icmp_echo_ignore_broadcasts=1
net.ipv4.icmp_ignore_bogus_error_messages=1

# Make sure spoofed packets get logged
# Log Martians
net.ipv4.conf.all.log_martians = 1
net.ipv4.icmp_ignore_bogus_error_responses = 1

# Block SYN attacks
net.ipv4.tcp_syncookies = 1
net.ipv4.tcp_max_syn_backlog = 2048
net.ipv4.tcp_synack_retries = 2
net.ipv4.tcp_syn_retries = 5

#Allow for more PIDs
kernel.pid_max = 65536

#Increase system IP port limits
net.ipv4.ip_local_port_range = 2000 65000

Để update thông tin vừa chỉnh sửa:
Sudo sysctl -p

Thursday, June 12, 2014

Thiết lập chính sách mật khẩu trong Linux

Trong bài trước mình đã dẫn và giới thiệu về bảo mật hệ thống *nix với PAM. Trong bài viết này mình trình bày về làm sao để thiết lập chính sách mật khẩu (account password policy) cho hệ thống Linux sao cho đảm bảo các yếu tố an ninh.

1.      Giới hạn số ngày tối đa mà một mật khẩu được phép sử dụng trước khi nó phải thay đổi

Theo mặc định của các hệ thống Linux thì thời hạn tối đa của mật khẩu là 99999, tuy nhiên thời gian này là quá lớn và tương đương với việc password sẽ không bao giờ hết hạn. Để giới hạn số ngày tối đa mà một password được phép sử dụng, cần thiết lập lại  tham số: PASS_MAX_DAYS trong file /etc/login.defs


Cú pháp sử dụng như sau: 
PASS_MAX_DAYS N
với N – là số ngày tối đa mà một mật khẩu được phép sử dụng

Ví dụ muốn thiết lập thời gian tối đa là 180 ngày:
PASS_MAX_DAYS 180

2.      Thiết lập chính sách yêu cầu mật khẩu phải thỏa mãn một số điều kiện 

Để chống lại các hình thức tấn công dò mật khẩu thông thường (dictionary attack, brute-force…) thì mật khẩu hợp lệ phải chứa càng nhiều loại ký tự khác nhau càng tốt: chữ thường, chữ viêt hoa, ký tự đặc biệt, số. Để thiết lập chính sách về việc mật khẩu sử dụng phải thỏa mãn các điều kiện về số lượng loại ký tự được phép sử dụng, cần thiết lập trong pam.d với thư viện pam_cracklib.so.

Cú pháp sử dụng như sau:
password required pam_cracklib.so difok=DI lcredit=L ucredit=U dcredit=D ocredit=O

Với DI,L,U,D,O>=1 và
 dcredit=D : Số lượng chữ số.
 ucredit=U: Số lượng chữ cái in hoa
 lcredit=L : Số lượng chữ cái thường.
ocredit=O : Số lượng các ký tự đặc biệt khác
 difok=DI: số lượng các ký tự của passwd mới được phép trùng với passwd cũ

*Lưu ý pam_cracklib.so đã được cài sẵn trên Redhat/Fedora/CentOS. Nếu hệ thống Debian/Ubuntu chưa có module này thì gõ lệnh sau để cài đặt nó: # apt-get install libpam-cracklib.

Bảo mật hệ thống *nix với PAM



1. Đặt vấn đề

Chắc hẳn bạn đã từng tự hỏi tại sao các chương trình ftp, su, login, passwd, sshd, rlogin … lại có thể hiểu và làm việc với shadow password; hay tại sao các chương trình su, rlogin lại đòi hòi password; tại sao một số hệ thống chỉ cho một nhóm nào đó có quyền su, hay sudo, hay hệ thống chỉ cho phép một số người dùng, nhóm người dùng đến từ các host xác định và các thiết lập giới hạn cho những người dùng đó, …Tất cả đều có thể lý giải với PAM. Ứng dụng của PAM còn nhiều hơn những gì tôi vừa nêu nhiều, và nó bao gồm các module để tiện cho người quản trị lựa chọn.

2. Cấu trúc PAM

- Các ứng dụng PAM được thiết lập trong thư mục /etc/pam.d hay trong file /etc/pam.conf ( login, passwd, sshd, vsftp, …)
- Thư viện các module được lưu trong /lib/security ( pam_chroot.so, pam_access.so, pam_rootok.so, pam_deny.so, … )
- Các file cấu hình được lưu trong /etc/security ( access.conf, chroot.conf, group.conf ,… )
+ access.conf – Điều khiển quyền truy cập, được sử dụng cho thư viện pam_access.so.
+ group.conf – Điểu khiển nhóm người dùng, sử dụng bởi pam_group.so
+ limits.conf – thiết lập các giới hạn tài nguyên hệ thống, được sử dụng bởi pam_limits.so.
+ pam_env – Điểu khiển khả năng thay đổi các biến môi trường, sử dụng cho thư viện pam_env.so .
+ time – Thiết lập hạn chế thời gian cho dịch vụ và quyền người dùng, sử dụng cho thư viện pam_time.so.

3. Cách hoạt động của PAM

Thuật ngữ
- Các chương trình login, pass, su, sudo, … trên được gọi là privilege-granting application ( chương trình trao đặc quyền ).

- PAM-aware application: là chương trình giúp các privile-granting application làm việc với thư viện PAM.

Các bước hoạt động:

1. Người dùng chạy một ứng dụng để truy cập vào dịch vụ mong muốn, vd login.
2. PAM-aware application gọi thư viện PAM để thực hiện nhiệm vụ xác thực.
3. PAM library sẽ dựa vào file cấu hình của chương trình đó trong /etc/pam.d ( vd ở đây là login -> file cấu hình /etc/pam.d/login ) xác định loại xác thực nào được yêu cầu cho chương trình trên. Trong trường hợp không có file cấu hình, thì file /etc/pam.d/other sẽ được sử dụng.
4. PAM library sẽ load các module yêu cầu cho xác thực trên.
5. Các modules này sẽ tạo một liên kết tới các hàm chuyển đổi ( conversation functions ) trên chương trình.
6. Các hàm này dựa vào các modules mà đưa ra các yêu cầu với người dùng, vd chúng yêu cầu người dùng nhập password.
7. Người dùng nhập thông tin vào theo yêu cầu.
8. Sau khi quá trình xác thực kết thúc, chương trình này sẽ dựa vào kết quả mà đáp ứng yêu cầu người dùng ( vd cho phép login vào hệ thống ) hay thông báo thất bại với người dùng.

Thursday, June 5, 2014

Reset password Ubuntu/CentOS/Debian

Rất nhiều người đã từng quên mật khẩu trên các hệ điều hành Linux của mình và không ít trong số họ đã lựa chọn cách cài lại hệ điều hành? Tuy nhiên, điều đó là không cần thiết vì trên các phiên bản của Linux đều có hỗ trợ chế độ Recovery Mode - giúp bạn có thể dễ dàng reset mật khẩu của mình.
Các bước thực hiện như sau:
Bước 1: Boot vào chế độ Recovey Mode (nhấn giữ SHIFT trong quá trình boot của GRUB để hiển thị cửa sổ lựa chọn chế độ boot)
Bước 2: Trong màn hình tiếp theo, chọn "root - Drop to root shell prompt" và nhấn ok 
Bước 3: Nếu quên username, nhập vào câu lệnh "ls /home/" như sau
Bước 4: Thực thi câu lệnh "mount -rw -o remount" để mount thư mục gốc

Bước 5: Thực thi câu lệnh "passwd username", trong trường hợp này là "password ubuntu4" để reset mật khẩu, sau đó nhập vào mật khẩu mới và xác nhận. 
Bước 6: Nhập vào exit để thoát chế độ nhập dòng lệnh, và boot vào hệ thống và đăng nhập với mật khẩu mới.

*Lưu ý: Trong trường hợp này thì chế độ Recovery Mode thật sự hữu ích nhưng nếu trong máy bạn có chứa những dữ liệu quan trọng thì tốt nhất nên tắt chế độ Recovery Mode hoặc yêu cầu nhập mật khẩu khi truy cập vào chế độ này. Vì khi truy cập với chế độ này thì là với quyền root nhưng lại không yêu cầu mật khẩu, thì bất kỳ ai nếu có thể tiếp cận với máy tính của bạn thì họ có thể dễ dàng truy cập và lấy được dữ liệu trong đó. 
Phần bảo vệ Recovery Mode mình sẽ giới thiệu trong bài tiếp theo.